I. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC SỞ HỮU TRÍ TUỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận số 51-KL/TW, ngày 17/6/2026 về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.
Theo nội dung Kết luận số 51-KL/TW, Bộ Chính trị khẳng định đây là vấn đề rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, là yếu tố cốt lõi để bảo đảm tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đề án với tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và tinh thần hành động cao nhằm tạo chuyển biến căn bản về công tác sở hữu trí tuệ trong thời gian tới.
Để công tác sở hữu trí tuệ phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu thống nhất nhận thức về vai trò chiến lược của sở hữu trí tuệ, quán triệt sâu sắc quan điểm quyền sở hữu trí tuệ là nguồn lực quan trọng của quốc gia. Việc tạo lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng bền vững và bảo vệ tương lai phát triển của đất nước.
Kết luận nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính về sở hữu trí tuệ sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ; đưa nội dung sở hữu trí tuệ trở thành cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đồng thời yêu cầu xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong toàn xã hội; kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền, sao chép, đạo văn trong học thuật và các vi phạm về quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.
Cùng với đó, cần hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ hiện đại, đồng bộ, thích ứng với kinh tế số; rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế tiên tiến và đáp ứng yêu cầu phát triển các mô hình kinh tế mới. Bộ Chính trị yêu cầu xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh từ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ sinh học, bán dẫn, nền tảng số và không gian mạng; nâng cao hiệu quả cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số, tăng cường chế tài xử lý vi phạm và nghiên cứu hình thành cơ chế tài phán chuyên sâu về sở hữu trí tuệ.
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thiện cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng thị trường công nghệ hiện đại; đẩy mạnh khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị trong huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ nhằm bảo đảm năng lực sở hữu trí tuệ để phát triển nhanh và bền vững; ban hành Chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; bố trí đủ nguồn lực cho các cơ quan bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường năng lực cho các tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ. Công tác phối hợp giữa công an, hải quan, quản lý thị trường, viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan liên quan cần được đẩy mạnh nhằm đấu tranh, phòng chống các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên môi trường số.
Kết luận nhấn mạnh yêu cầu kiên quyết chấm dứt tình trạng sử dụng trái phép quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với yêu cầu phổ cập tri thức, phát triển khoa học, công nghệ và lợi ích chung của xã hội. Bên cạnh đó, cần bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh; đẩy mạnh hội nhập quốc tế có chọn lọc về sở hữu trí tuệ, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ; Đảng ủy Chính phủ xây dựng kế hoạch triển khai Kết luận và bố trí nguồn lực thực hiện. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương có trách nhiệm vận động nhân dân thực hiện Kết luận, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì công tác tuyên truyền; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện và định kỳ 6 tháng báo cáo Bộ Chính trị.
II. KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC VỀ SƠ KẾT 1 NĂM VẬN HÀNH MÔ HÌNH TỔ CHỨC TỔNG THỂ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN 3 CẤP
Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Nội dung Thông báo số 100 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:
1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.
Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.
2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.
3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:
(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.
(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.
(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).
(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.
(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).
(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.
(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).
(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.
(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:
i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".
ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.
iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.
iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.
v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.
III. TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG PHỤC VỤ TRIỂN KHAI CÁC CÔNG TRÌNH, DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Ngày 16/6, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Công văn số 491-CV/TU về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng phục vụ triển khai các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh.
Trong đó, công tác giải phóng mặt bằng phải được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách; là khâu then chốt, quyết định tiến độ triển khai dự án, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, khả năng thu hút đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng và mở rộng không gian phát triển kinh tế của tỉnh; nên các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, nhiều công trình, dự án vẫn còn chậm tiến độ do khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; một số nơi công tác tuyên truyền, vận động chưa hiệu quả; việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có lúc chưa chặt chẽ; vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, để tồn tại kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công, giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Để tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện mục tiêu tăng trưởng 02 con số của tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu Ban Thường vụ Đảng ủy xã, phường: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác giải phóng mặt bằng đối với các công trình, dự án trên địa bàn quản lý; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa phương trong năm 2026, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng.
Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã, phường chịu trách nhiệm trực tiếp trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy về kết quả thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn; phải thường xuyên kiểm tra hiện trường, trực tiếp đối thoại, tuyên truyền, vận động các hộ dân thuộc diện thu hồi đất; kịp thời giải quyết hoặc đề xuất giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Tổ chức rà soát cụ thể từng hộ dân chưa nhận tiền bồi thường, chưa bàn giao mặt bằng; phân loại rõ nguyên nhân, xây dựng kế hoạch vận động, xử lý đối với từng trường hợp; không để phát sinh điểm nóng, khiếu kiện đông người, vượt cấp hoặc kéo dài. Trường hợp thiếu trách nhiệm, chậm trễ, né tránh, đùn đẩy hoặc để tồn đọng kéo dài làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các công trình, dự án thì người đứng đầu cấp ủy địa phương phải chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy. Định kỳ hằng tuần báo cáo tiến độ thực hiện đối với từng công trình, dự án; nêu rõ số hộ đã nhận tiền bồi thường, số hộ đã bàn giao mặt bằng, số hộ còn vướng mắc, nguyên nhân, giải pháp xử lý và thời gian hoàn thành.
IV. TRIỂN KHAI SẮP XẾP ẤP, KHÓM, KHU PHỐ PHÙ HỢP YÊU CẦU TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 02 CẤP
Thực hiện chủ trương của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, tỉnh Vĩnh Long đang tập trung triển khai phương án sắp xếp lại quy mô ấp, khóm, khu phố. Đây được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn đảm bảo tốt nhất các chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Thực hiện Kết luận số 34-KL/TW, ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; Chỉ thị số 21/CT-TTg. ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nội dung này và Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Phương án số 7804/PA-UBND, ngày 09/6/2026 về sắp xếp ấp, khóm, khu phố trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, bảo đảm phù hợp với yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và điều kiện thực tiễn của từng địa bàn.
Hiện nay, toàn tỉnh có 2.460 ấp, khóm, khu phố, gồm 2.117 ấp và 343 khóm, khu phố. Theo quy định tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, ngày 26/5/2026 của Chính phủ thì ấp có quy mô tối thiểu là 400 hộ gia đình, khóm, khu phố có quy mô tối thiểu là 550 hộ gia đình. Qua rà soát, có 1.399 ấp, khóm, khu phố chưa bảo đảm tiêu chuẩn về quy mô hộ gia đình thuộc diện phải xem xét sắp xếp, gồm 1.165 ấp và 234 khóm, khu phố. Bên cạnh đó, có 08 ấp, khóm tuy chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô hộ gia đình nhưng do có yếu tố đặc thù nên không thực hiện sắp xếp. Sau khi hoàn thành phương án, toàn tỉnh còn 1.496 ấp, khóm, khu phố, gồm 1.293 ấp và 203 khóm, khu phố, giảm 964 đơn vị (giảm 824 ấp và 140 khóm, khu phố).
Việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố nhằm cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về tổ chức lại các đơn vị dân cư ở cơ sở theo hướng tinh gọn, hợp lý, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Qua đó góp phần giảm đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý dân cư, tăng cường chất lượng hoạt động tự quản của cộng đồng, sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước và cải thiện chất lượng phục vụ Nhân dân.
Đối với các địa bàn có yếu tố đặc thù như vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn cù lao, cồn biệt lập hoặc khu vực có điều kiện địa lý đặc biệt, tỉnh xem xét giữ ổn định tổ chức để bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, duy trì sự gắn kết cộng đồng dân cư và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Hiện nay, Ủy ban nhân dân các xã, phường đang tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Đề án sắp xếp ấp, khóm, khu phố trên địa bàn để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định, đảm bảo hoàn thành trước ngày 30/6/2026.
Bố trí, sử dụng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Cùng với việc thực hiện sắp xếp ấp, khóm, khu phố, công tác bố trí, sử dụng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách được xác định là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Vì vậy, việc rà soát, lựa chọn, bố trí nhân sự phải được thực hiện chặt chẽ, khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương.
Theo Nghị định số 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ, mỗi ấp, khóm, khu phố được bố trí không quá 03 người hoạt động không chuyên trách, gồm: Bí thư Chi bộ; Trưởng ấp, khóm, khu phố hoặc Trưởng Ban nhân dân ấp, khóm và Trưởng Ban Công tác Mặt trận. Đây là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa bàn dân cư, trực tiếp tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời là cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.
Trong quá trình thực hiện sắp xếp ấp, khóm, khu phố, các địa phương sẽ tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện đội ngũ người hoạt động không chuyên trách hiện có trên cơ sở phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác, kinh nghiệm thực tiễn, kết quả thực hiện nhiệm vụ, uy tín trong Nhân dân và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, lựa chọn, bố trí những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực, tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với công việc để tiếp tục tham gia công tác tại các ấp, khóm, khu phố sau sắp xếp. Việc lựa chọn, bố trí nhân sự được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ, đúng thẩm quyền và đúng quy định; bảo đảm lựa chọn được những người có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kỹ năng vận động, tập hợp quần chúng, khả năng phát huy vai trò nòng cốt trong các phong trào ở địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới phương thức hoạt động ở cơ sở.
Bên cạnh đó, các địa phương sẽ quan tâm xem xét, lựa chọn và giới thiệu những cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực, kinh nghiệm và uy tín để tham gia đảm nhiệm các chức danh người hoạt động không chuyên trách và các chức danh khác ở ấp, khóm, khu phố theo quy định của pháp luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và nhu cầu thực tế của địa phương sau khi thực hiện sắp xếp. Quá trình bố trí, sử dụng nhân sự được thực hiện trên cơ sở phát huy tối đa năng lực, sở trường của từng cá nhân, đồng thời bảo đảm sự kế thừa, ổn định và liên tục trong hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Việc bố trí, sử dụng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách sau sắp xếp không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các ấp, khóm, khu phố mà còn phát huy hiệu quả nguồn nhân lực hiện có, đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn và góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn mới.
Quan tâm thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách chịu tác động từ việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố
Cùng với công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và bố trí nhân sự, việc giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách chịu tác động từ quá trình sắp xếp ấp, khóm, khu phố được các cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đội ngũ này theo quy định của pháp luật.
Sau khi thực hiện sắp xếp, một bộ phận người hoạt động không chuyên trách sẽ không tiếp tục đảm nhiệm vị trí công tác do yêu cầu kiện toàn tổ chức và bố trí nhân sự theo mô hình mới. Vì vậy, việc triển khai các chế độ, chính sách đối với các trường hợp chịu tác động được xác định là nhiệm vụ quan trọng, phải được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đây không chỉ là yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương sắp xếp mà còn góp phần ổn định tư tưởng, tạo sự đồng thuận trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Theo quy định hiện hành, người hoạt động không chuyên trách dôi dư do thực hiện sắp xếp ấp, khóm, khu phố được xem xét giải quyết chế độ, chính sách theo Điều 10 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, ngày 15/6/2025 của Chính phủ về tinh giản biên chế. Việc áp dụng chính sách này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các trường hợp không tiếp tục tham gia công tác, đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền lợi theo quy định của pháp luật.
Đối với những trường hợp có nguyện vọng thôi tham gia công tác (nghỉ việc) trước thời điểm thực hiện sắp xếp ấp, khóm, khu phố, hiện vẫn được xem xét giải quyết chế độ trợ cấp nghỉ việc theo các nghị quyết của Hội đồng nhân dân các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh (trước khi hợp nhất tỉnh) còn hiệu lực thi hành. Việc thực hiện các chính sách này thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của địa phương đối với những người đã có quá trình gắn bó, đóng góp cho hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, góp phần hỗ trợ ổn định đời sống và tạo sự an tâm đối với các đối tượng liên quan.
Bên cạnh đó, Sở Nội vụ đang tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết quy định chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố; người tham gia hoạt động ở ấp, khóm, khu phố và mức khoán kinh phí hoạt động của ấp, khóm, khu phố trên địa bàn tỉnh. Sau khi được ban hành, nghị quyết sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thống nhất, đồng bộ các chế độ, chính sách trên phạm vi toàn tỉnh, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới.
Việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách chịu tác động từ việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố không chỉ bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các cá nhân liên quan mà còn thể hiện sự quan tâm, ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp của đội ngũ này trong thời gian qua. Qua đó, góp phần củng cố niềm tin, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để triển khai hiệu quả chủ trương sắp xếp ấp, khóm, khu phố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong giai đoạn mới.
Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong xã hội
Việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến tổ chức, hoạt động của các ấp, khóm, khu phố, đội ngũ người hoạt động không chuyên trách, các chức danh khác ở cơ sở và đời sống của một bộ phận Nhân dân. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong xã hội cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt quá trình triển khai thực hiện.
Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp, bảo đảm cán bộ, đảng viên và Nhân dân nắm vững mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung và những lợi ích thiết thực của việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố. Đồng thời, cần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, giám sát quá trình thực hiện; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, dư luận xã hội và giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh ngay từ cơ sở, không để hình thành các điểm nóng, vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố không chỉ là yêu cầu khách quan trong quá trình đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở mà còn là cơ hội để cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách và các chức danh khác ở địa bàn dân cư; lựa chọn, bố trí những người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và tinh thần trách nhiệm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Quá trình thực hiện cần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy với việc quan tâm, thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách theo quy định đối với những người chịu tác động từ việc sắp xếp, qua đó thể hiện sự ghi nhận, trân trọng đối với những đóng góp của đội ngũ đã nhiều năm gắn bó, cống hiến cho địa phương.
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành chặt chẽ của chính quyền các cấp; sự vào cuộc đồng bộ của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cả hệ thống chính trị; cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, việc sắp xếp ấp, khóm, khu phố trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long sẽ được triển khai hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Qua đó, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của địa phương và đất nước trong giai đoạn mới.
V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NGHỊ QUYẾT CHIẾN LƯỢC CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Để triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc và hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của các Nghị quyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và ban hành các chương trình thực hiện, cụ thể như sau:
- Đối với Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (gọi tắt là Nghị quyết số 57-NQ/TW): Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 14 CTr/TU, ngày 20/12/2025 về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Kế hoạch hành động chiến lược số 01 KH/BCĐTW, ngày 02/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
- Đối với Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (gọi tắt là Nghị quyết số 59-NQ/TW): Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 09-CTr/TU, ngày 30/11/2025 về thực hiện Nghị quyết số 59 NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
- Đối với Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (gọi tắt là Nghị quyết số 66-NQ/TW): Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 11-CTr/TU, ngày 18/12/2025 về thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
- Đối với Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (gọi tắt là Nghị quyết số 68-NQ/TW): Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 02-CTr/TU, ngày 20/10/2025 về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
- Đối với Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Nghị quyết số 70-NQ/TW): Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 08-CTr/TU, ngày 30/11/2025 về thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Đối với Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (gọi tắt là Nghị quyết số 71-NQ/TW): Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình số 06-CTr/TU, ngày 20/11/2025 về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạotrên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Kết quả thực hiện
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 60 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 56 nhiệm vụ (tỷ lệ 93,3%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 04 nhiệm vụ (tỷ lệ 6,7%).
2. Nghị quyết số 59-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 07 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 02 nhiệm vụ (tỷ lệ 28,6%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 05 nhiệm vụ (tỷ lệ 71,4%).
3. Nghị quyết số 66-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 16 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 16 nhiệm vụ (tỷ lệ 100%).
4. Nghị quyết số 68-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 06 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 04 nhiệm vụ (tỷ lệ 66,7%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 02 nhiệm vụ (tỷ lệ 33,3%).
5. Nghị quyết số 70-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 22 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 05 nhiệm vụ (tỷ lệ 22,7%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 17 nhiệm vụ (tỷ lệ 77,3%).
6. Nghị quyết số 71-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 24 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 07 nhiệm vụ (tỷ lệ 29,2%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 12 nhiệm vụ (tỷ lệ 50%); nhiệm vụ chưa thực hiện (còn trong hạn) 05 nhiệm vụ (tỷ lệ 20,8%)
7. Nghị quyết số 72-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 10 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 01 nhiệm vụ (tỷ lệ 10%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 09 nhiệm vụ (tỷ lệ 90%).
8. Nghị quyết số 79-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 25 nhiệm vụ, trong đó: nhiệm vụ đã hoàn thành 07 nhiệm vụ (tỷ lệ 28%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 17 nhiệm vụ (tỷ lệ 68%); nhiệm vụ quá hạn 01 nhiệm vụ (tỷ lệ 4%).
9. Nghị quyết số 80-NQ/TW: Tổng số nhiệm vụ được giao 22 nhiệm vụ, trong đó: chưa có nhiệm vụ hoàn thành (0%); nhiệm vụ đang thực hiện (còn trong hạn) 17 nhiệm vụ (tỷ lệ 77,3%); nhiệm vụ chưa thực hiện (còn trong hạn) 05 nhiệm vụ (tỷ lệ 22,7%).
10. Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tỉnh đang khẩn trương nghiên cứu, ban hành kế hoạch để triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, do đó, đến thời điểm hiện tại chưa đánh giá tiến độ thực hiện.
B
AN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY