I. BỘ CHÍNH TRỊ BAN HÀNH KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT VỀ TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, TIÊU CỰC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW ngày 18/5/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
Cũng theo Kế hoạch, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết.
2. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu, thực hành văn hoá liêm chính của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xử lý nghiêm người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc bao che, cản trở việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân, người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ. Nâng cao hiệu quả giáo dục liêm chính, xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính.
3. Tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, nghiêm minh, nhất quán, rõ trách nhiệm. Thể chế hoá, cụ thể hoá đầy đủ, kịp thời chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo các văn kiện, nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
4. Kiểm soát quyền lực chặt chẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, gắn với kiểm soát chặt chẽ, thực chất tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tập trung vào các lĩnh vực mới, trọng yếu, then chốt tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
5. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời, bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.
6. Thực hiện đồng bộ các giải pháp, triển khai quyết liệt, toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về công tác phòng, chống lãng phí cả về thời gian, cơ hội phát triển, nguồn lực và của cải, vật chất trong hệ thống chính trị và toàn xã hội.
7. Đổi mới, hiện đại hoá công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tạo sự lan toả, đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân phản ánh, tố giác tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực nhà nước thực sự hiệu lực, hiệu quả.
8. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; hoàn thiện các thiết chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tăng cường hợp tác quốc tế, đàm phán, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp, các thoả thuận, điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng; đẩy mạnh truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn, thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.
II. SẮP XẾP THÔN, TỔ DÂN PHỐ VÀ BỐ TRÍ, SỬ DỤNG, CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở CẤP XÃ, Ở THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Chỉ thị số 21/CT-TTg, ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
Chỉ thị nêu rõ: Thực hiện chủ trương của Đảng và các quy định của pháp luật, trong những năm qua việc sắp xếp thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu (gọi chung là thôn, tổ dân phố) trong cả nước đã đạt được kết quả quan trọng, số lượng thôn, tổ dân phố giảm dần; nhiều thôn, tổ dân phố đã đáp ứng tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số lượng thôn, tổ dân phố trên mỗi đơn vị hành chính cấp xã tăng lên nhiều, tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền địa phương ở cơ sở.
Bảo đảm người dân được tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố
Thực hiện Kết luận số 34-KL/TW, ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; nhằm bảo đảm việc triển khai được thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong cả nước, phù hợp với yêu cầu quản lý trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc sắp xếp thôn, tổ dân phố bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và yêu cầu quản lý của địa phương khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, mục tiêu tăng trưởng "2 con số" và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Trong quá trình triển khai thực hiện phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, không để xảy ra điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở; giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Việc bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định gắn với quá trình triển khai thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố ở địa phương; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách, bảo đảm ổn định tư tưởng và quyền lợi của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức.
Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là người có uy tín, sức khỏe, tâm huyết, trách nhiệm, năng lực vận động quần chúng nhân dân, từng bước trẻ hoá, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị cộng đồng và chất lượng, hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận cao của Nhân dân; bảo đảm người dân được thông tin đầy đủ, tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo đúng quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương tổ chức rà soát toàn bộ thôn, tổ dân phố trên địa bàn; xây dựng Phương án tổng thể sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố (trong đó bao gồm phương án kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại các thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và chính sách hỗ trợ theo quy định; đồng thời giải quyết chế độ, chính sách cho người không tiếp tục tham gia hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố), báo cáo cấp ủy cùng cấp trước khi ban hành; hoàn thành trước ngày 10/6/2026.
Chỉ đạo UBND cấp xã xây dựng Đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố; tổ chức lấy ý kiến Nhân dân theo đúng quy định của pháp luật và trình Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua Đề án bảo đảm công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện; hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.
Kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã trước ngày 31/5/2026
UBND các tỉnh, thành phố kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã trước ngày 31/5/2026. Khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện phương án bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; bảo đảm hoàn thành đồng bộ với thời gian hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố, trước ngày 30/6/2026.
Phương án bố trí, sử dụng phải gắn với yêu cầu cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo tinh thần Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, theo hướng:
Trên cơ sở biên chế được giao năm 2026, lựa chọn, tiếp nhận vào làm công chức, viên chức cấp xã đối với các trường hợp có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn phù hợp, đáp ứng ngay yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm.
Thực hiện chế độ hợp đồng thực hiện nhiệm vụ công chức, viên chức đối với các vị trí cần thiết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự bố trí theo quy định. Giải quyết đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với các trường hợp không tiếp tục bố trí, sử dụng.
Hoàn thiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, ban hành trước 26/5/2026
Bộ Nội vụ hoàn thiện các nội dung Đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để ban hành trước ngày 26/5/2026.
Bộ Công an Chỉ đạo lực lượng công an các cấp chủ động nắm tình hình địa bàn; phối hợp với chính quyền địa phương các cấp trong việc rà soát, cung cấp số liệu hộ gia đình cư trú trên địa bàn; kịp thời tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý các vấn đề phát sinh về an ninh trật tự trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố; bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để hình thành điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở.
Phối hợp với Bộ Nội vụ và các địa phương hướng dẫn việc rà soát, kiện toàn, bố trí lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phù hợp với việc sắp xếp thôn, tổ dân phố trước ngày 25/5/2026.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2026 - 2030, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045
Ngày 29/4/2026, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045.
1. Công tác triển khai, quán triệt
Đẩy mạnh công tác triển khai, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân tộc, nhất là Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và Chỉ thị số 19-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào Khmer trong tình hình mới. Công tác tuyên truyền cần thực hiện thường xuyên, liên tục đến các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng Nhân dân, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng.
2. Tập trung phát triển kinh tế - xã hội, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao đời sống Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và huy động tốt các nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập cho người dân. Phát huy hiệu quả các công trình lớn do Trung ương đầu tư trên địa bàn, bảo đảm vận hành đồng bộ, ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong sản xuất, quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh, phù hợp với văn hóa, tập quán của địa phương. Nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị cao, có thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; tập trung xây dựng Tổ hợp tác, Hợp tác xã, triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát triển chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Phát triển du lịch sinh thái, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
- Gắn kết chặt chẽ việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi với phát triển ngành nghề nông thôn và huy động mọi nguồn lực đầu tư, từng bước hiện đại hóa nông thôn; ưu tiên đầu tư xây dựng hoàn thiện mạng lưới đường giao thông nông thôn, bảo đảm thông suốt đến tận ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống người dân. Tiếp tục quán triệt thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chương trình, kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình giảm nghèo bền vững, Nghị quyết số 78/NQ-CP, ngày 18/06/2022 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, khai thác tốt các nguồn vốn đầu tư của Trung ương, vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số để đầu tư cho phát triển hạ tầng, sản xuất, kinh doanh; bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững. Có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và dịch vụ; tập trung đầu tư, hỗ trợ các địa bàn đặc biệt khó khăn, trong đó có các xã đảo, xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Giải quyết tốt các vấn đề bức xúc trên lĩnh vực văn hóa, xã hội; nâng cao dân trí; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số
- Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh xã hội hóa và đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa; tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể gắn với phát triển du lịch. Tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, phòng, chống các tệ nạn xã hội, ấn phẩm độc hại, bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu; đầu tư, hỗ trợ sưu tầm, sáng tác những tác phẩm văn học, nghệ thuật ca ngợi truyền thống đoàn kết, phản ánh cuộc sống của đồng bào trong sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước. Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; tiếp tục củng cố và phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao truyền thống. Nâng cao chất lượng sản phẩm tin, bài Báo Vĩnh Long chữ Khmer và các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Khmer; tăng cường thời lượng phát sóng trong các chương trình phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí tiếng Khmer. Đầu tư, nâng cao chất lượng hoạt động của Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer, Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh, Làng Văn hóa - Du lịch Khmer.
- Củng cố, phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú, nâng cao chất lượng dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số; có cơ chế chính sách đặc thù đối với việc dạy, quản lý nội dung, chương trình dạy và học tiếng Hoa, tiếng Chăm tại các điểm dạy cộng đồng, ngữ văn Khmer, Pali, giáo lý trong các chùa Phật giáo Nam tông Khmer; sớm nghiên cứu, rà soát, tham mưu mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động Trường Trung cấp Pali - Khmer nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tới; đề xuất Trung ương sớm ban hành Chương trình dạy học môn tiếng Khmer cấp trung học phổ thông, biên soạn sách giáo khoa và danh mục các thiết bị dạy học môn tiếng Khmer cấp trung học phổ thông. Thực hiện đầy đủ và giải quyết các vướng mắc về chế độ, chính sách cho giáo viên, người dạy. Thực hiện tốt chế độ cử tuyển và chính sách hỗ trợ sinh viên dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn theo học các trường đại học. Tiếp tục đầu tư nâng tầm Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn thuộc Đại học Trà Vinh, Đoàn nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh, Báo, chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Khmer, Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer.
- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nhất là đào tạo có văn bằng, chứng chỉ gắn với giải quyết việc làm; nghiên cứu đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú. Tập trung thực hiện các giải pháp để giải quyết việc làm cho người lao động thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và các dịch vụ y tế; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; đẩy mạnh y tế dự phòng, thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế; tập trung đầu tư, nâng cấp các bệnh viện, trạm y tế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phấn đấu để mỗi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, nâng dần tỷ lệ người dân có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng cao. Kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế, có chính sách hỗ trợ đối với cán bộ y tế phục vụ ở vùng dân tộc thiểu số, địa bàn đặc biệt khó khăn; duy trì bố trí phòng bệnh dành riêng cho các vị chức sắc, tôn giáo theo quy định; nâng cao y đức, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo bác sĩ chuyên khoa là người dân tộc thiểu số.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai, tiếp cận các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ người nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn vốn, không để xảy ra tiêu cực, lãng phí.
4. Lãnh đạo thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
- Lãnh đạo triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc. Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tạo điều kiện hợp pháp, thuận lợi và có biện pháp quản lý chặt chẽ việc qua lại biên giới Việt Nam - Campuchia của sư sãi, đồng bào dân tộc theo quy định của hai nước.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đúng pháp luật.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của Mêkone, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước, tăng cường phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong vận động sư sãi, đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phát huy tốt vai trò của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số vừa là cơ sở thờ tự, vừa là nơi tổ chức hoạt động văn hóa, lễ hội theo phong tục, tập quán, phổ biến các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, các mô hình điển hình trong sản xuất, kinh doanh…
5. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn
- Thực hiện hiệu quả công tác quốc phòng - an ninh trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; phát huy vai trò của người có uy tín, chức sắc tôn giáo, ban quản trị chùa trong công tác tuyên truyền, vận động tín đồ, phật tử tự giác thực hiện giữ vững trật tự, an toàn xã hội; giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động và kẻ xấu lợi dụng dân tộc, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết các mâu thuẫn ngay từ cơ sở, nhất là tranh chấp, khiếu kiện có liên quan đến dân tộc, tôn giáo, kiên quyết không để xảy ra các “Điểm nóng”, “Điểm phức tạp” về an ninh, trật tự. Tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng Công an, Quân sự thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức làm nòng cốt trong giữ gìn an ninh, trật tự, giải quyết tốt các vấn đề phức tạp nổi lên tại địa bàn dân cư.
6. Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
- Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng đồng bộ, hoạt động hiệu quả; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, nhiệm vụ công tác dân tộc trong tình hình mới. Xem việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, năng lực, phẩm chất, tận tụy với công việc, trách nhiệm với Nhân dân. Tăng cường công tác tư tưởng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong công nhân, học sinh, sinh viên.
- Thực hiện tốt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới; bảo đảm tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp; chú trọng phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, trong đó chú trọng đến cán bộ lãnh đạo, quản lý biết đọc, viết thông thạo và am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường cán bộ cho Phòng Văn hóa xã, phường đủ sức hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc trong tình hình mới.
- Tiếp tục thực hiện chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về kết nạp đảng viên người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo, kết nạp đảng viên là thành viên ban quản trị chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở ấp, khóm.
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp công tác dân vận, thực hiện tốt công tác dân vận theo phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Trọng dân, gần dân, học dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân” và “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống đoàn kết, giảm nghèo nhanh, bền vững. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tạo điều kiện để đồng bào tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện chương trình, dự án, chính sách dân tộc.
IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035
Ngày 13/5/2026, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035.
1. Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các Chương trình; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nâng cao trách nhiệm, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, đặc biệt là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong triển khai thực hiện. Tập trung tuyên truyền bằng nhiều hình thức giúp doanh nghiệp và người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức được vai trò chủ thể, đồng lòng chung tay, chung sức tích cực tham gia thực hiện các Chương trình; nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Vĩnh Long cùng Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững”, Phong trào “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” giai đoạn 2026 - 2030” do Thủ tướng Chính phủ phát động, cuộc vận động“Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”,...; tập trung xây dựng, cập nhật, hoàn thiện, phổ biến các mô hình hiệu quả, các điển hình tiên tiến, các kinh nghiệm hay, cách làm hay, sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững để nhân rộng.
2. Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện, chuyển mạnh từ “đạt chuẩn” sang “nâng cao chất lượng và tính bền vững”, chú trọng duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí sau đạt chuẩn nông thôn mới. Tập trung hướng dẫn địa phương triển khai xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại. Đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều, liên ngành, tập trung phát triển sinh kế, nâng cao năng lực tự chủ, tự vươn lên của người nghèo, không để tái nghèo diễn ra trên diện rộng.
3. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về huy động vốn, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo quy định; Ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển cho các địa bàn khó khăn. Lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu và các dự án đầu tư khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn, đảm bảo tập trung, tránh dàn trải. Đẩy mạnh vận động các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh đăng ký hỗ trợ thực hiện chương trình; khuyến khích các xã, phường có điều kiện kinh tế phát triển hỗ trợ các xã khó khăn. Người dân tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới theo nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch, thông qua Hội đồng nhân dân xã và được cộng đồng thống nhất.
4. Củng cố tổ chức bộ máy, hệ thống quản lý, tham mưu thực hiện Chương trình theo hướng tinh gọn, chuyên trách, phù hợp với chủ trương tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 02 cấp; thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp của các cấp, các ngành trong thực hiện Chương trình.
5. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với mô hình tổ chức hành chính hai cấp theo các văn bản hướng dẫn của Trung ương. Trong đó, tập trung cụ thể hóa Bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026 - 2030 để áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện, quản lý Chương trình tập trung vào các giải pháp chính như: số hóa dữ liệu, xây dựng hệ thống quản lý, giám sát trực tuyến; phát triển bản đồ số nông nghiệp, truy xuất nguồn gốc OCOP và đào tạo kỹ năng số thông qua tổ công nghệ số cộng đồng.
6. Tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của người dân và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia tích cực vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình. Doanh nghiệp cần được tạo môi trường thuận lợi để đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo sinh kế và việc làm bền vững.
7. Tăng cường các hoạt động phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và chuyển đổi số cho hộ sản xuất, hợp tác xã, nhất là sản phẩm OCOP và sản phẩm chủ lực của tỉnh. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình.
8. Tăng cường hiệu quả chính sách tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Nhất là các cơ chế tín dụng phù hợp để hỗ trợ phát triển sản xuất, Chương trình OCOP, công nghệ chế biến vừa và nhỏ, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường,... đồng thời khuyến khích các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội tham gia cho vay ủy thác.
9. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, gắn kết quả thực hiện Chương trình với việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đơn vị; chú trọng quản lý chặt chẽ việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực; có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm trong quá trình tổ chức thực hiện; tiếp tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của cộng đồng dân cư theo phương châm:“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”.
V. ĐỒNG HÀNH VÌ LỢI ÍCH CHUNG, BẢO ĐẢM HÀI HÒA GIỮA BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN QUÊ HƯƠNG
Những ngày qua, thông tin về việc cấp phép khai thác mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a (cát trên sông Hậu đoạn qua xã Lục Sĩ Thành và xã An Phú Tân) nhận được nhiều ý kiến quan tâm, băn khoăn của người dân, nhất là bà con sinh sống ở ấp Tân Qui, xã An Phú Tân.
Trong Nhiều bà con chia sẻ nỗi lo về nguy cơ sạt lở, những tác động đến cảnh quan thiên nhiên, môi trường, các giá trị văn hóa, cũng như những trăn trở liên quan đến định hướng phát triển lâu dài của địa phương. Đây là những ý kiến rất xác đáng, thể hiện trách nhiệm và tình cảm gắn bó sâu sắc của người dân đối với quê hương.
Không thể phủ nhận rằng, bãi bồi ven bờ sông cồn Tân Qui (người dân địa phương gọi cồn Tiên) trải dài hàng ngàn mét là một vẻ đẹp hiếm có mà thiên nhiên ban tặng. Đó không chỉ là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, mà còn là ký ức, là không gian sinh kế quen thuộc của nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, Miếu Bà Chúa Xứ – di tích lịch sử cấp tỉnh - cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của bà con trong vùng.
Ý thức rõ các giá trị thiêng liêng của vùng đất cù lao trong đời sống của người dân cũng như những tác động của việc khai thác cát đối với môi trường của khu vực, mọi chủ trương liên quan đến việc khai thác cát, cụ thể là khai thác 2 mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a đều được các cấp, các ngành cân nhắc hết sức thận trọng, trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu phát triển chung và bảo vệ những giá trị lâu dài của địa phương.
Trước tiên, cần khẳng định mục đích của việc đưa 2 mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a vào khai thác hoàn toàn phục vụ các dự án, công trình an ninh quốc phòng, dự án giao thông trọng điểm quốc gia để góp phần phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long, đảm bảo an ninh quốc gia, không có tính chất mua bán. Do đó, căn cứ Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 của Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, quy trình cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được thực hiện theo cơ chế đặc thù (Điều 2, Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP). Và nội dung cấp phép theo hình thức đặc thù này tiếp tục được Quốc hội quan tâm và cụ thể hóa thành Luật. Ngày 11/12/2025 Quốc hội ban hành Luật số 147/2025/QH15 để sửa đổi bổ sung một số điều của Luật địa chất và khoáng sản. Theo đó, quy định cụ thể các trường hợp giao mỏ cát theo hình thức đặc thù để kịp thời khai thác phục vụ các dự án an ninh quốc phòng, dự án giao thông trọng điểm quốc gia
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tỉnh đánh đổi môi trường, đời sống người dân hay các giá trị văn hóa - lịch sử để đổi lấy các giá trị kinh tế, mà ngược lại, việc cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được tiến hành rất thận trọng: Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tiến hành khảo sát, đo đạc kỹ hiện trạng lòng sông, địa hình khu vực; lấy ý kiến các cơ quan, sở ngành có liên quan; mời các chuyên gia, nhà khoa học về môi trường, khoáng sản để họp hội đồng thẩm định Phương án kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường khai thác cát, trong đó xem xét đánh giá tác động của việc khai thác cát đối với ổn định đường bờ, môi trường khu vực mỏ; chạy mô hình đánh giá tác động đến xói lở bờ sông khi đưa vào khai thác… Có thể khẳng định, việc cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về các kiến nghị cụ thể của bà con, lãnh đạo tỉnh thấu hiểu mỗi kiến nghị đều xuất phát từ tình yêu quê hương, từ mong muốn giữ gìn những gì thân thuộc và bền vững. Lãnh đạo tỉnh luôn quan tâm, lắng nghe và chia sẻ một số thông tin phản hồi đến bà con:
Thứ nhất, về giá trị sinh thái và tiềm năng du lịch
Nhiều ý kiến cho rằng các bãi bồi tự nhiên, khi nước rút tạo thành không gian cảnh quan đẹp, có thể khai thác du lịch. Thực tế, đây là những giá trị cần được trân trọng. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đầy đủ rằng các bãi bồi trên sông là hiện tượng biến động tự nhiên, không ổn định, có thể thay đổi theo mùa, theo dòng chảy. Trong một số trường hợp, chính sự hình thành các bãi bồi này lại làm thay đổi hướng dòng nước, tạo lạch sâu áp sát bờ, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở, ảnh hưởng đến nhà cửa, đất sản xuất của người dân. Vì vậy, việc khai thác cát tại những khu vực đã được khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng không chỉ nhằm phục vụ công trình trọng điểm, mà còn góp phần điều chỉnh dòng chảy hợp lý hơn, hạn chế nguy cơ sạt lở.
Ngoài ra, tỉnh đã tiến hành rà soát quy hoạch du lịch trên tuyến sông, có thể khẳng định, về quy hoạch, tuyến sông Trà Ôn (nhánh trái sông Hậu), đoạn có 2 mỏ, không có quy hoạch cho hoạt động du lịch và có quy hoạch khoáng sản (02 mỏ cát được cấp phép nằm trong quy hoạch khoáng sản của tỉnh Vĩnh Long cũ tại Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 10/8/2018, ký hiệu mỏ NTSH.10, NTSH.10a).
Thứ hai, về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Miếu Bà Chúa Xứ – di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh
Miếu Bà Chúa Xứ Tân Qui không chỉ là một công trình, mà là nơi gửi gắm niềm tin, đời sống tâm linh của người dân trong vùng. Lo lắng của bà con về nguy cơ ảnh hưởng là hoàn toàn chính đáng. Vì vậy, nguyên tắc đặt ra là bảo vệ tuyệt đối khu vực di tích, không để hoạt động khai thác tác động đến nền móng, không gian hay sinh hoạt tín ngưỡng. Các cơ quan chức năng đã khoanh vùng bảo vệ, đồng thời có phương án theo dõi, giám sát thường xuyên để kịp thời xử lý nếu có bất kỳ dấu hiệu ảnh hưởng.
Thứ ba, về những cam kết trước đây của lãnh đạo tỉnh
Liên quan đến những cam kết trước đây của lãnh đạo tỉnh, cần nhìn nhận trong bối cảnh cụ thể của từng thời điểm. Những chủ trương, quyết sách mới của Đảng, Nhà nước luôn được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tiễn và được xem xét trên cơ sở lợi ích tổng thể, lâu dài, trong đó có các công trình trọng điểm mang tính liên vùng, quốc gia. Tuy nhiên, tinh thần nhất quán và không thay đổi là luôn đặt lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương lên trên hết; trách nhiệm của chính quyền trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân. Do đó, việc đưa vào khai thác mỏ NTSH.10, NTSH.10a là vì mục tiêu chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đi kèm với các giải pháp kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực.
Thứ tư, về nguy cơ sạt lở, sụt lún do thay đổi kết cấu tự nhiên của cồn
Đây là một trong những lo ngại lớn nhất, bởi nó gắn trực tiếp với nhà cửa, vườn tược, sinh kế của người dân. Do đó, trước khi cấp phép, các cơ quan chuyên môn đã tiến hành đánh giá tác động địa chất, thủy văn. Đồng thời khẳng định 02 mỏ được cấp phép không nằm dưới chân cồn Tân Qui, vị trí mỏ từ giữa lòng sông Trà Ôn (nhánh trái sông Hậu) về phía bờ xã Lục Sĩ Thành (nằm hoàn toàn trên địa phận xã Lục Sĩ Thành). Trước khi cấp phép, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với đại diện Ủy ban nhân dân xã An Phú Tân, đại diện Ban mặt trận ấp Tân Qui khảo sát khoảng cách mỏ đến bãi bồi (cồn Tiên) và cồn Tân Qui. Đồng thời, sau cấp phép (ngày 29/4/2026), lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính, các sở, ngành, địa phương khảo sát, kiểm tra lại khoảng cách mỏ đến chân cồn. Qua khảo sát, đo đạc thực tế xác định khoảng cách từ mỏ cát NTSH.10 cách chân bãi bồi (cồn Tiên) là 190m, cách cồn Tân Qui từ 329m đến 348m và mỏ cát NTSH.10a cách chân bãi bồi là 170m - 225m, cách cồn Tân Qui từ 330m đến 350m; đối chiếu với quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản (cát san lấp), các thành viên tham gia khảo sát khẳng định việc khai thác 02 mỏ cát trên phục vụ công trình khẩn cấp quốc phòng, an ninh và công trình giao thông trọng điểm quốc gia đảm bảo đúng quy chuẩn, quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản, không có khả năng gây sạt lở cồn Tiên và cồn Tân Qui.
Về hình thái lòng sông: do việc hình thành cục bộ các bãi bồi giữa lòng sông dẫn đến dòng chảy, lạch sâu hình thành sát bờ xã Lục Sĩ Thành và bờ xã An Phú Tân (khu vực cấp phép khai thác mỏ cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn); và sát bờ xã Lục Sĩ Thành (khu vực cấp phép khai thác mỏ cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây lắp Miền Nam). Qua thẩm định, đánh giá của Hội đồng, kết quả chạy mô hình cho thấy, việc khai thác mỏ (độ sâu tối đa -15m), cách bờ ít nhất 120m thì đảm bảo an toàn cho đường bờ. Ngoài việc cung cấp nguồn vật liệu cung cấp cho các công trình an ninh quốc phòng, công trình trọng điểm quốc gia, còn chỉnh trị dòng chảy, đưa dòng chảy ra xa bờ xã Lục Sĩ Thành (ở cả 02 khu mỏ), xa bờ xã An Phú Tân (khu mỏ cấp cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn).
Về cơ sở lý thuyết khoa học đã được thẩm định, nếu các đơn vị khai thác đúng thiết kế, phương án đã được phê duyệt thì đảm bảo không gây sạt lở. Tuy nhiên, để theo dõi, giám sát hoạt động khai thác, vận chuyển cát đảm bảo đúng quy định pháp luật, trên phương tiện khai thác phải lắp đặt camera giám sát, lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên phương tiện khai thác để truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan có liên quan. Theo quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản, việc đo vẽ, theo dõi địa hình đáy sông thực hiện định kỳ 1 lần/năm; tuy nhiên, để giám sát chặt chẽ, không để việc khai thác vượt độ sâu cho phép (-15m), Ủy ban nhân dân tỉnh ghi rõ trong Giấy phép yêu cầu 02 công ty phải thực hiện đo vẽ địa hình đáy sông định kỳ 1 lần/tháng; thực hiện cắm cọc giám sát 02 bờ sông theo dõi giám sát khi có dấu hiệu sạt lở dừng khai thác, khắc phục (mỏ NTSH.10 cắm 33 cọc: mỗi bờ 16 cọc, đuôi cồn kênh Đào 01 cọc; mỏ NTSH.10a cắm 34 cọc, mỗi bờ 17 cọc).
Sau khi được cấp Giấy phép khai thác, 02 đơn vị được cấp phép đã thực hiện ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (mỏ NTSH.10 là 892 triệu đồng, mỏ NTSH.10a là 899 triệu đồng). Trong quá trình khai thác, nếu xảy ra sạt lở, đơn vị khai thác sẽ dừng ngay việc khai thác, tìm nguyên nhân gây sạt lở và thực hiện bồi thường và khắc phục. Đồng thời, hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai gói thầu thi công lắp đặt camera chuyên dụng giám sát hoạt động khai thác cát, sẽ lắp 01 camera giám sát tại 02 mỏ này, dữ liệu được truyền 24/24 về Sở Nông nghiệp và Môi trường, có chia sẻ cho Ủy ban nhân dân 02 xã Lục Sĩ Thành, An Phú Tân và Tổ Công tác giám sát hoạt động khai thác mỏ cát NTSH10 và NTSH10a để giám sát.
Thứ năm, về nguy cơ ảnh hưởng đến hạ tầng đã được đầu tư
Các tuyến giao thông, bờ kè, đê bao hiện có là thành quả lâu dài của Đảng, Nhà nước và Nhân dân cùng xây dựng qua bao thế hệ nên việc bảo vệ là yêu cầu bắt buộc. Các phương án khai thác đều đã tính đến yếu tố này, với nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến các công trình hiện hữu. Đồng thời, trách nhiệm của đơn vị thi công là phải có cam kết cụ thể; nếu để xảy ra hư hỏng, sạt lở thì phải khắc phục, bồi hoàn theo quy định như phần trên đã trình bày.
Để một chủ trương đúng, phát huy hiệu quả tích cực trong đời sống xã hội, một điều quan trọng là, quá trình thực hiện không thể thiếu sự giám sát, góp ý của chính người dân. Những phản ánh kịp thời từ cơ sở sẽ giúp các cơ quan chức năng điều chỉnh phù hợp, bảo đảm vừa thực hiện nhiệm vụ chung, vừa giữ gìn môi trường sống, sinh kế và các giá trị văn hóa của địa phương.
Phát triển luôn đi kèm với những tác động nhất định. Nhưng nếu có sự đồng thuận, minh bạch và trách nhiệm từ cả chính quyền và Nhân dân, chúng ta hoàn toàn có thể vừa thực hiện các công trình trọng điểm, vừa bảo vệ được những gì quý giá của quê hương.
Sự chia sẻ, đồng hành của bà con không chỉ góp phần vào thành công của công trình, mà còn là yếu tố quan trọng để bảo đảm mọi quyết sách đều hướng đến mục tiêu cuối cùng: phát triển bền vững, nâng cao đời sống và gìn giữ giá trị lâu dài cho các thế hệ mai sau.
VI. VĨNH LONG SƠ KẾT 01 NĂM THỰC HIỆN CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP
Chiều 20/5, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long tổ chức Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp, sáp nhập tỉnh và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long, kể từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp được triển khai đồng bộ, thống nhất tại 124 Ủy ban xã, phường trên địa bàn tỉnh. Từ đó bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong quản lý hành chính nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Tại hội nghị các đại biểu thống nhất đánh giá trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh đã triển khai đầy đủ các nội dung về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp được thực hiện nghiêm túc, kịp thời theo chỉ đạo của Trung ương; tổ chức bộ máy từng bước được kiện toàn, đi vào hoạt động ổn định.
Công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành tỉnh với địa phương được tăng cường, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong quá trình vận hành. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở được nâng lên; quy trình giải quyết công việc được rút gọn, giảm trung gian, tạo thuận lợi cho người dân và tổ chức.
Thảo luận tại hội nghị, lãnh đạo các xã, phường trong tỉnh phản ánh những khó khăn, vướng mắc, đang gặp phải trong thời gian qua. Trong đó nổi bật là tại cấp xã, khối lượng công việc của các phòng chuyên môn rất lớn, tạo nên áp lực công việc đối với cán bộ, công chức cấp xã; thiếu cán bộ có chuyên môn sâu trên lĩnh vực xây dựng, đất đai, quy hoạch, kiến trúc.
Các địa phương cũng kiến nghị phân cấp thẩm quyền đi kèm nguồn lực và hướng dẫn thực hiện chi tiết để cấp xã thực hiện thống nhất trên địa bàn tỉnh. Các xã, phường cũng kiến nghị công tác phối hợp giữa các sở ngành với địa phương cần chặt chẽ, nhịp nhàng để kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc.
Phát biểu kết luận và chỉ đạo hội nghị, đồng chí Trần Trí Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ghi nhận, biểu dương cố gắng nỗ lực của các sở, ngành địa phương trong thời gian qua, đồng chia sẻ những khó khăn trong công việc của cán bộ, công chức cấp xã.
Chỉ đạo những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung trong thời gian tới, đồng chí Trần Trí Quang yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương, của Chính phủ; không tự bằng lòng với kết quả đạt được; nâng cao tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu trong tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến.
Đặc biệt là chính quyền địa phương 02 cấp phải lấy sự hài lòng của người dân doanh nghiệp làm thước đo, hiệu quả công việc; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm việc tận tâm và chuyên nghiệp; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ.
BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY