Thông báo

Chuyên mục đưa Nghị quyết vào cuộc sống
(05/05/2026 00:00:00)
Thông tin tuyên truyền từ ngày từ ngày 04/5/2026 - 10/5/2026

THÔNG TIN

phục vụ biên soạn

“Chuyên mục đưa Nghị quyết vào cuộc sống”

tuyên truyền trên truyền thanh xã, phường

từ ngày 04/5/2026 - 10/5/2026

-----

I. KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÒNG, CHỐNG, SỤT LÚN, SẠT LỞ, NGẬP ÚNG, HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư ký, ban hành Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống, sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2035.

Những năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu, sự thay đổi lớn về số lượng và chất lượng nước từ thượng nguồn sông Cửu Long, cùng với việc khai thác cát lòng sông, nước ngầm vượt quá khả năng bù đắp tự nhiên, tình hình sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long diễn biến ngày càng phức tạp, nghiêm trọng.

Trước tình hình đó, cần có những giải pháp tổng thể, tiến tới kiểm soát cơ bản tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm an ninh nguồn nước; góp phần bảo đảm an ninh lương thực, ổn định dân sinh, phát triển bền vững kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tăng cường quán triệt quan điểm "chủ động thích ứng" với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật của tự nhiên, nhận diện đúng bản chất, nguyên nhân của các hiện tượng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long để có giải pháp xử lý từ gốc với lộ trình cụ thể, bảo đảm tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giải pháp công trình và phi công trình; lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng nhất, lấy phát triển sản xuất, kinh tế-xã hội làm trọng tâm, lấy giữ vững môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long làm nguyên tắc nền tảng.

2. Trong quý II/2026, hoàn thành việc rà soát, bổ sung các nội dung về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, lấn biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào hệ thống quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, quy hoạch của các địa phương để điều chỉnh phù hợp.

Trong năm 2027, hoàn thành việc rà soát, thể chế hóa cơ bản đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng thành hệ thống pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành trong các lĩnh vực: Tài nguyên nước, thủy lợi, phòng, chống thiên tai, đất đai, lâm nghiệp, xây dựng, tài nguyên khoáng sản, khí tượng thủy văn. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên; ứng dụng mô hình nông-thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi giống, phương thức canh tác nuôi trồng thủy sản, cây trồng ít sử dụng nước, phù hợp với các vùng sinh thái, nâng cao hiệu quả sản xuất; bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng ngập mặn gắn với quản lý, khai thác tín chỉ các-bon và các nguồn lợi từ rừng. Rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế-kỹ thuật đối với công trình, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đa mục tiêu, trong đó có lồng ghép mục tiêu phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn.

3. Quản lý hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông, hệ thống thủy lợi, đê điều và chống ngập đô thị. Xây dựng, điều chỉnh và thực hiện kế hoạch sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; chủ động trữ nước tại các kênh, rạch, hồ tự nhiên, trữ nước lũ ở vùng ngập sâu, có các phương án, giải pháp sử dụng nguồn nước, thu trữ nước để ứng phó với hạn mặn; nghiên cứu xây dựng công trình kiểm soát mặn tại các cửa sông; sắp xếp, di dời dân cư khu vực thường xuyên xảy ra ngập úng, có nguy cơ cao xảy ra sụt lún, sạt lở. Quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng nhà ở, công trình, khai thác cát lòng sông, nước ngầm và các hoạt động khác có nguy cơ làm gia tăng sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn.

4. Rà soát, đánh giá hiệu quả, tác động của các công trình, cơ sở hạ tầng đã đầu tư liên quan sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn; ưu tiên đầu tư cho các dự án có tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, thích ứng thông minh, ứng dụng khoa học-công nghệ, các dự án cơ sở hạ tầng phục vụ di dời dân ở những vùng có nguy cơ sụt lún, sạt lở cao; khắc phục những hạn chế, kịp thời điều chỉnh các dự án, công trình còn bất cập.

5. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong quản lý, dự báo, cảnh báo, giám sát, hỗ trợ điều tra, đánh giá tác động, xây dựng cơ chế, chính sách, ra quyết định đầu tư, điều tiết theo thời gian thực các công trình phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất, liên thông, dùng chung; hoàn thiện cơ chế cập nhật, cung cấp, chia sẻ dữ liệu về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn giữa các bộ, ngành, địa phương. Ưu tiên đầu tư trang thiết bị, công nghệ, mô hình dự báo để nâng cao độ tin cậy cảnh báo sớm.

Nghiên cứu sử dụng vật liệu tái chế, thân thiện môi trường, thay thế cát lòng sông. Nghiên cứu mở rộng áp dụng các giải pháp phi công trình; nhân rộng những giải pháp, cách làm hay trong khắc phục sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đầu tư nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản, phương thức canh tác, nuôi trồng hiện đại, phù hợp điều kiện tự nhiên, tiết kiệm nguồn nước và các vật tư đầu vào, nâng cao chất lượng, hiệu quả, giảm phát thải.

6. Tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương, nhất là các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công trong quản lý, khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước xuyên biên giới và phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn.

7. Kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về nguồn nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, bảo đảm tập trung đầu mối, thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, hình thành đội ngũ chuyên gia chuyên sâu.

Ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài) cho các nhiệm vụ phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, tuyệt đối không để xảy ra lãng phí, tiêu cực.

Có chính sách phù hợp để khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong xây dựng công trình phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển; trồng, khôi phục rừng ngập mặn ven biển; xây dựng, cải tạo hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; khai thác hiệu quả các nguồn lực bổ sung như bán tín chỉ carbon và các nguồn lực hợp pháp khác.

8. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương, các tổ chức và người dân đối với các quy định pháp luật về tài nguyên nước, thủy lợi, bảo vệ rừng, quy hoạch đất đai, xây dựng, phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu.

II. TUYÊN TRUYỀN CÁC NGHỊ QUYẾT, QUY ĐỊNH, KẾT LUẬN CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

Ngày 23/4/2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương ban hành Hướng dẫn số 17-HD/BTGDVTW về tuyên truyền các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; trong đó nhấn mạnh các nội dung tuyên truyền trọng tâm như sau:

Nghị quyết số 04-NQ/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới: Phân tích các mục tiêu, quan điểm nêu trong Nghị quyết; khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát của Nhân dân,... đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Nhân dân lên trên hết và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm; chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa,... đồng thời xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ và ưu tiên thu hồi tài sản, khuyến khích khắc phục hậu quả.

Tuyên truyền những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực giai đoạn mới, nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu trong xây dựng, kiên trì thực hành văn hóa liêm chính, lấy liêm chính làm giá trị cốt lõi, chuẩn mực ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và toàn xã hội; kịp thời hoàn thiện thể chế, pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, nghiêm minh, rõ trách nhiệm; kiểm soát quyền lực chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả; phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, công bằng, khách quan, nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục, hiệu quả, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn xã hội; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt và bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và mở rộng hợp tác quốc tế,...

Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng: Tuyên truyền, làm rõ quan điểm, mục tiêu của công tác kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức, chức năng lãnh đạo quan trọng nhất, là cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền; là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng,... kiên quyết kiểm tra, xử lý nghiêm minh, kịp thời vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,... góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,...

Tập trung tuyên truyền, phân tích, luận giải sâu sắc những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: (1) Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật đảng; cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu phải coi kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, gương mẫu, quyết liệt, thể hiện trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện; (2) Nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; (3) Đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; (4) Chuyển đổi số toàn diện trong ngành Kiểm tra Đảng; đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, trang thiết bị, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, thực hiện toàn diện, thực chất, hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, khai thác dữ liệu, liên thông giữa cơ quan ủy ban kiểm tra và các cơ quan có liên quan,...; (5) Kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính; (6) Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan có liên quan, nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp và liên thông thông tin.

Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng: Phân tích, làm rõ yêu cầu của công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên,... Công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng; phải giữ vững nguyên tắc không ngừng đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò đi trước, mở đường, dẫn dắt,... tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại,... tiến hành thường xuyên, liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, thực chất, đúng tiến độ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

Tập trung tuyên truyền các nguyên tắc của công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy “4 kiên định”, đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, làm kim chỉ nam, định hướng hành động; nội dung công tác chính trị, tư tưởng giữ vững bản chất cách mạng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam,... Thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,... thiết lập chuẩn mực đạo đức, cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên,... khơi dậy tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Làm rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên: Trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện (trách nhiệm của tập thể cấp ủy, cá nhân người đứng đầu), tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, nêu gương và tác phong công tác, đặc biệt bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ định hướng chính trị trong xây dựng ý thức tổ chức, kỷ luật, kỷ cương,... Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, giữ vững lập trường và bản lĩnh chính trị, tuân thủ kỷ luật đảng, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện tác phong, thường xuyên nghiên cứu, học tập và triển khai nghị quyết của Đảng, nghe, nói, viết và hành động theo nghị quyết.

Quy định số 20-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng: Tuyên truyền đầy đủ nội dung Quy định số 20-QĐ/TW, làm rõ việc sửa đổi, bổ sung Quy định tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức đảng hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong bối cảnh sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tập trung tuyên truyền, phân tích, lý giải những nội dung mới, trọng tâm, sửa đổi, bổ sung Quy định, như: trình độ học vấn của người vào Đảng; thời hạn tổ chức lễ kết nạp và công nhận đảng viên chính thức; phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng; đảng viên xin miễn công tác và sinh hoạt đảng; quy chế làm việc của cấp ủy,... và thí điểm tổ chức các đảng bộ xã, phường trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy là đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng; cấp ủy tỉnh, thành phố quyết định tổ chức đảng ở đặc khu là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng,...(mục 10.2.); thí điểm việc cấp ủy cấp trên khi chỉ định nhân sự tham gia cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, giữ các chức danh lãnh đạo cấp dưới trực tiếp thì đồng thời chỉ định tham gia cấp ủy, ban thường vụ, bí thư,... (mục 16.3.2); các cấp ủy trực thuộc Trung ương được thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức, cách làm mới trong khuôn khổ Điều lệ Đảng và phải báo cáo Bộ Chính trị đồng ý chủ trương trước khi thực hiện (mục 17),... khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo đảm thống nhất, giữ vững nguyên tắc của Đảng. Khẳng định việc ban hành Quy định số 20-QĐ/TW là cơ sở khoa học chuẩn bị cho việc tổng kết thực tiễn, đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, Cương lĩnh Chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội XV của Đảng, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng.

Kết luận số 18-KL/TW về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số": Phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, sự nỗ lực, cố gắng, với quyết tâm chính trị cao, tạo những bứt phá, tăng tốc phát triển kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước, giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân,...; phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát,... trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; gia nhập nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD.

Tập trung tuyên truyền những nhiệm vụ, giải pháp: (i) Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”; (ii) Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; (iii) Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới; (iv) Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; (v) Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (vi) Xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; (vii) Hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; (viii) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa và phát triển đô thị, liên kết vùng; (ix) Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; (x) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; (xi) Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa; nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia; nhiệm vụ, giải pháp vay, trả nợ công; nhiệm vụ, giải pháp đầu tư công trung hạn,...

III. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN KẾT QUẢ KỲ HỌP THỨ NHẤT, QUỐC HỘI KHÓA XVI

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp Văn phòng Quốc hội biên soạn Đề cương tuyên truyền kết quả Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XVI, trong đó định hướng công tác tuyên truyền kết quả Kỳ họp như sau:

1. Tuyên truyền làm rõ Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI là dấu mốc quan trọng, ý nghĩa tạo nền tảng về thể chế, tổ chức, động lực của nhiệm kỳ, hoạt động của Quốc hội trong 5 năm tới; kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; các quyết sách mà Quốc hội thông qua nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường, điều chỉnh linh hoạt các sắc thuế, chính sách tài khóa, thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu mục tiêu tăng trưởng “2 con số”; thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược: năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Khẳng định việc Quốc hội hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, tường minh và phù hợp với tình hình thực tiễn, hành động vì lợi ích của Nhân dân, quốc gia.

2. Tập trung tuyên truyền kết quả của Kỳ họp, khẳng định sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm cao, quyết tâm đổi mới hoạt động, Quốc hội đã khẩn trương, bắt tay vào triển khai công việc bài bản từ những ngày đầu nhiệm kỳ, hoàn thành khối lượng công việc lớn, cụ thể: công tác tổ chức, nhân sự; công tác lập pháp và xem xét, quyết định các nội dung về kinh tế - xã hội và các vấn đề quan trọng khác của đất nước,... kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, như: Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt,... và các nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi),... Nghị quyết về thành lập Thành phố Đồng Nai, Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Nghị quyết về Kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia và kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030,... nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp, tạo thuận lợi trong kinh doanh, sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

3. Tăng cường tuyên truyền việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngành, địa phương, nhất là những chuyển biến tích cực, cách làm sáng tạo, hiệu quả; hiệu quả vận hành của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, lấy việc phục vụ Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, tạo ra những chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế - xã hội của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Tuyên truyền nổi bật thông điệp trong phát biểu nhậm chức của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội, làm rõ ý nghĩa, quyết tâm cao của các đồng chí Lãnh đạo nhiệm kỳ mới, đoàn kết, thống nhất tập trung vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuyên truyền kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2026).

4. Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những nội dung được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI; định hướng kịp thời tư tưởng, dư luận của các tầng lớp Nhân dân trước các vấn đề, sự kiện lớn của đất nước.

IV. PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC TẶNG QUÀ GIA ĐÌNH CHÍNH SÁCH, CÔNG NHÂN VÀ TRẺ EM Ở VĨNH LONG

Chiều 28/4, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, cùng Đoàn công tác Trung ương đã đến thăm, tặng quà cho gia đình chính sách, công nhân và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại Vĩnh Long, nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4) và Ngày Quốc tế Lao động (1/5).

Phát biểu tại chương trình, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân ghi nhận, biểu dương những kết quả Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Vĩnh Long đạt được thời gian qua. Tỉnh đã phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động kiện toàn bộ máy sau hợp nhất và vận hành hiệu quả mô hình chính quyền hai cấp, bảo đảm mọi hoạt động phục vụ người dân, doanh nghiệp không bị gián đoạn.

Vĩnh Long đã có những bước chuyển tích cực trong phát triển kinh tế, nhất là trong tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị nông sản từng bước hình thành, trong đó các sản phẩm đặc trưng như dừa, dừa sáp được chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng.

Lĩnh vực năng lượng tái tạo và kinh tế biển là những điểm sáng, góp phần thu hút đầu tư, tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương. Đặc biệt, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thể hiện quyết tâm lớn của tỉnh trong đóng góp vào chiến lược phát triển đất nước đến năm 2045.

Cùng với đó, tỉnh đã chăm lo chu đáo cho hơn 70.000 liệt sỹ, 33.000 thương binh và các Mẹ Việt Nam Anh hùng trên địa bàn. Phó Chủ tịch nước đề nghị tỉnh Vĩnh Long tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, khơi dậy khát vọng phát triển trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân; lấy mục tiêu nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân làm trọng tâm. Đồng thời, tỉnh cần đẩy mạnh tăng tốc phát triển kinh tế nhưng phải bền vững, không đánh đổi môi trường, văn hóa, an sinh xã hội để lấy tăng trưởng đơn thuần; chú trọng thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương, các dân tộc để mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả. Cùng với đó, tỉnh cần đánh giá mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau một năm triển khai để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, hướng tới mục tiêu xây dựng chính quyền gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân hiệu quả.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Bé Mười, thời gian qua, công tác chăm lo người có công được tỉnh thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Tỉnh đang chi trả trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng cho hơn 31.000 trường hợp, với tổng kinh phí khoảng 94 tỷ đồng/tháng. Dịp Tết Nguyên đán năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng hơn 259.000 phần quà, với kinh phí khoảng 85 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương và địa phương. Công tác giảm nghèo cũng được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp thiết thực như hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng, việc làm, dạy nghề, xây dựng nhà đại đoàn kết, hỗ trợ tiền điện... Qua đó, đến cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 8.737 hộ nghèo, tỷ lệ 0,88% (giảm 0,35%) và 19.246 hộ cận nghèo, tỷ lệ 1,94% (giảm 0,13%)…

Tại chương trình, Đoàn công tác đã trao bảng tượng trưng 200 suất học bổng của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam tặng học sinh có hoàn cảnh khó khăn; trao 90 phần quà tặng đại diện gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động; 20 phần quà tặng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Trước đó, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng Đoàn công tác đã đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Đặng Thị Biết (sinh năm 1929, xã Hữu Định), có chồng và con là liệt sỹ hy sinh trong các cuộc kháng chiến.

Tại đây, Phó Chủ tịch nước ân cần thăm hỏi sức khỏe, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh, đóng góp to lớn của gia đình Mẹ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời khẳng định Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, xem đây là trách nhiệm và đạo lý thiêng liêng.

V. TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO, NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

Trước tình trạng tội phạm công nghệ cao sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để giả mạo hình ảnh, giọng nói của lãnh đạo tỉnh và các cơ quan báo chí nhằm phát tán thông tin sai lệch, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long đã ban hành Công văn số 380-CV/TU nhằm chấn chỉnh và nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân trên không gian mạng.

Nhận diện phương thức thủ đoạn tinh vi

Thời gian gần đây, trên không gian mạng xuất hiện tình trạng lợi dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để giả mạo hình ảnh, giọng nói của lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long và danh nghĩa các cơ quan báo chí địa phương như Báo và đài phát thanh và truyền hình Vĩnh Long. Mục đích của các đối tượng này nhằm đăng tải, quảng bá thông tin sai sự thật, trái pháp luật, gây hoang mang trong nhân dân.

Những hành vi này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các tổ chức, cá nhân mà còn làm nhiễu loạn thông tin, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Nâng cao “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên

Để kịp thời chấn chỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm.

Trước hết là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các quy định của Đảng, Nhà nước về quản lý và sử dụng mạng xã hội. Trọng tâm là nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về các nguy cơ, tác hại của thông tin xấu độc, đặc biệt là các hình thức giả mạo bằng công nghệ AI ngày càng tinh vi, khó nhận diện.

Cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; tuyệt đối không đăng tải, chia sẻ, bình luận hoặc lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin sai sự thật, thông tin mang tính suy diễn, gây hoang mang dư luận,…

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao khả năng "miễn dịch" trước thông tin xấu độc, kiểm soát chặt chẽ hành vi cá nhân trên không gian mạng.

Phát huy vai trò nêu gương và đấu tranh phản bác

Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhấn mạnh vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Lãnh đạo các đơn vị phải chủ động tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tích cực chia sẻ, lan tỏa những thông tin chính thống, tích cực để "lấy cái đẹp dẹp cái xấu".

Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời phát hiện, báo cáo và phối hợp xử lý các thông tin sai sự thật liên quan đến địa phương. Các trường hợp vi phạm phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không để xảy ra tình trạng bị động, bất ngờ.

Ứng dụng công nghệ để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền là yêu cầu cấp thiết. Tỉnh ủy chỉ đạo cần củng cố các kênh thông tin chính thống của cơ quan, đơn vị và các kênh truyền thông của Ban Chỉ đạo 35 các cấp.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng ủy Công an tỉnh, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy và các cơ quan liên quan sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp trong việc giám sát, kiểm tra và định hướng dư luận xã hội.

Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong sử dụng mạng xã hội không chỉ là yêu cầu của công tác quản lý, mà còn là nhiệm vụ quan trọng để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của tỉnh Vĩnh Long.

 

BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY